TỘC ƯỚC - GIA PHÁP - HỌ BÙI (DỰ THẢO)
XÓM 5 - TRÀNG DUỆ - LÊ LỢI - AN DƯƠNG- HẢI PHÒNG
LỜI NÓI ĐẦU
Người trong cộng đồng đều có những qui tắc ứng xử chung để cuộc sống được thuận lợi, một người vì mọi người để phát triển xã hội. Nước có Hiến pháp, đoàn thể có Điều lệ, làng xã có Hương ước, dòng họ có Tộc ước là lẽ tự nhiên và tất yếu.
Ông cha ta xưa, tuy chưa có văn bản Tộc ước, nhưng có những thỏa thuận truyền khẩu mà bao đời nay con cháu đều gìn giữ và làm mực tuân theo.
Do điều kiện xã hội hiện đại, con cháu ngày càng đông, phát triển và cư trú trên mọi vùng, miền lãnh thổ và cả nước ngoài, không còn quần cư trong khuôn khổ làng xã, nên cần cụ thể hoá quan hệ dòng tộc để thực hiện. Để tỏ lòng tôn kính
Tổ tiên, thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tăng cường mối quan hệ tình cảm huyết thống, hướng về cội nguồn, tri ân, đoàn kết, giúp đỡ nhau và cùng phấn đấu vì mục đích trường tồn, phát triển của dòng tộc; Trưởng họ Bùi đời thứ tám cùng các thành viên Hội đồng Bùi tộc xây dựng Tộc ước – Gia pháp áp dụng trong dòng họ.
Bản Tộc ước gồm 04 Chương, 20 Điều và 04 Quy ước.
CHƯƠNG I
TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH VÀ HUYẾT THỐNG
Điều 1. Tôn chỉ Bùi tộc
Bùi tộc được quy tụ và tổ chức thực hiện các hoạt động của dòng họ theo văn hoá truyền thống của các dòng họ Việt Nam, tuân thủ đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động theo quy định Tộc ước và các Quy ước của Hội đồng Bùi tộc.
Điều 2. Mục đích hoạt động Bùi tộc
Tập hợp, đoàn kết mọi người có cùng nguồn gốc họ Bùi thôn 5 Tràng Duệ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, cùng chung tâm nguyện “Vấn tổ tầm tông”, hướng về cội nguồn, kết nối dòng Họ, tri ân Tiên tổ; giáo dục nhân cách các thế hệ mai sau; hiểu biết thêm về lịch sử dòng Họ; không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp, vinh danh gương sáng trong học tập, công tác, lao động để thế hệ mai sau noi theo, để dòng họ trường tồn, không ngừng phát triển, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giầu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, hiện đại.
Điều 3. Huyết thống Bùi tộc
- Con trai, con gái, con nuôi, con riêng, con nhận hợp pháp đều là con cháu dòng tộc. Sau khi làm khai sinh, sau đám cưới, cha mẹ gửi bản sao giấy khai sinh, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn về Hội đồng gia tộc để đưa vào Gia phả và
Hội đồng Bùi tộc đưa vào Tộc phả. - Nếu là con ngoài gía thú, cha mẹ đôi bên muốn xin dòng tộc thừa nhận và có hai người trong dòng tộc xác nhận (bằng văn bản) thì thủ tục như khoản 1 Điều này.
- Quan hệ trong dòng tộc theo huyết thống, tôn ti trật tự và cách xưng hô theo gia truyền, mọi người cần phải giữ gìn, tuân thủ.
- Trường hợp mất liên lạc từ lâu, nếu có chứng cứ xác đáng, được Hội đồng Bùi tộc công nhận, thì làm lễ cáo gia tiên, thừa nhận con cháu dòng tộc.
CHƯƠNG II
QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM
CỦA CÁC THÀNH VIÊN DÒNG HỌ
Điều 4. Quyền lợi
- Tất cả mọi thành viên và gia đình trong dòng Họ, Ngành, Chi tộc đều thờ chung một Thủy tổ; cùng thừa hưởng ân đức của Tổ tiên, ông bà, cha mẹ để lại dù nhiều hay ít, dù ở gần hay ở xa, trong nước hay nước ngoài.
- Mọi người đều có quyền được đóng góp công sức, tiền của, hương khói theo lòng thành tùy tâm cho việc phụng sự Tổ tiên. Không phân biệt thứ hệ, giàu nghèo, nội ngoại, con nuôi, con riêng, con nhận (nếu được pháp luật công nhận) đều có quyền và nghĩa vụ như nhau.
Điều 5. Nghĩa vụ và trách nhiệm
- Mọi người phải có ý thức tìm hiểu về cội nguồn, Tổ tiên để tiếp tục bổ sung đầy đủ Gia phả, Tộc phả, phải chấp hành nghiêm những quy định trong Tộc ước,
Quy ước dòng Họ. Phải có trách nhiệm bảo vệ danh dự, uy tín của dòng Họ. - Việc cung tiến công đức là quyền và nghĩa vụ, là sự tự nguyện của con, cháu dòng Họ; nghiêm cấm việc lợi dụng đóng góp, công đức để thực hiện mưu đồ cá nhân, kể công, chia rẽ, mất đoàn kết, gây áp lực đối với mọi người trong dòng Họ.
- Những người là nam giới từ trẻ đến già thuộc nội tộc (kể cả con nuôi, con riêng, con nhận hợp pháp) phải có nghĩa vụ đóng góp kinh phí, công sức góp phần xây dựng, tôn tạo Nhà thờ họ, Nghĩa trang dòng Họ đúng với quy định của dòng Họ, của Hội đồng Bùi tộc, Hội đồng gia tộc.
- Con gái, con rể và các cháu, chắt bên ngoại gần, xa có lòng hiếu nghĩa, tự nguyện đóng góp, cung tiến xây dựng Nhà thờ, Nghĩa trang và dâng hương,… phụng sự Tổ tiên, đều được ghi nhận vào Sổ vàng công đức như mọi thành viên nội tộc.
- Mỗi khi tổ chức sinh hoạt, giỗ Tổ, Thanh minh, Mừng thọ, việc hiếu, hỉ,… trong các gia đình, chi, ngành và dòng họ, đều phải có sự bàn bạc, phân công chuẩn bị chu đáo, đến dự đông đủ, đúng thành phần quy định và ăn mặc lịch sự.
Việc tổ chức cần bảo đảm yêu cầu về nội dung và hình thức đạt chất lượng cao, phù hợp với đường lối chung của Nhà nước và những quy định của địa phương. Nghiêm cấm tổ chức tùy tiện, mê tín dị đoan, xa hoa lãng phí, ăn uống quá chén, nói năng thiếu văn hóa ảnh hưởng đến tình đoàn kết trong gia đình, các Chi, các Ngành, dòng Họ và an ninh trật tự tại địa phương.
- Mọi trường hợp cố ý vi phạm về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm quy định trong Tộc ước và các Quy ước, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, Hội đồng Bùi tộc xem xét quyết định hình thức xử lý phù hợp.
Điều 6. Phân cấp trong họ tộc, trách nhiệm của mỗi cấp
- Họ có Trưởng họ, ngành có Ngành trưởng, chi có Chi trưởng và các Tiểu chi,…. trực thuộc. Việc xưng hô phải theo đúng trật tự trên dưới, thứ bậc họ hàng. Trưởng họ chịu trách nhiệm chung trước Tổ Tiên và dòng Họ, bảo đảm tổ chức thực hiện tốt Tộc ước, Quy ước dòng họ; quản lý và bổ sung Tộc phả, duy trì thờ cúng
Tổ tiên của toàn dòng họ tại Nhà Thờ họ và Nghĩa trang dòng Họ theo đúng tập tục. - Trưởng họ, Trưởng chi phải chú ý phát huy vai trò, trách nhiệm của mình; cùng bàn bạc để tổ chức chỉ đạo duy trì tốt yêu cầu nội dung kế hoạch triển khai việc lễ Tổ trong những dịp Tết, Thanh minh, giỗ Tổ Họ, Tổ Chi,… phù hợp với khả năng và điều kiện, mọi người đoàn kết, vui vẻ, phấn khởi.
- Ngày Rằm, Mùng Một âm lịch hàng tháng, Trưởng họ, Chi trưởng, các Trưởng chi, Tiểu chi phải tiến hành hương đăng, trầu nước nơi thờ Tổ Họ, Tổ Chi. Chi trưởng, các Trưởng tiểu chi, các Ngành trưởng chịu trách nhiệm bảo đảm tổ chức thực hiện tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung Gia phả, Tộc phả và thờ cúng Tổ Tiên, ông bà, cha mẹ mình được chu đáo.
Điều 7. Thăm hỏi ốm đau, hiếu hỉ, mừng thọ, đỗ đạt, thăng tiến
- Ốm đau do thời tiết, cảm cúm thông thường, điều trị ở nhà vài hôm thì các gia đình ruột thịt và các gia đình trong họ gần kề sẽ qua lại thăm hỏi động viên. Nếu phải điều trị tại bệnh viện thì Hội đồng gia tộc tổ chức đến thăm hỏi, động viên, tặng quà phù hợp theo thời giá.
- Khi có gia đình gặp rủi ro, hoạn nạn thì Hội đồng gia tộc vận động các gia đình trong Chi đến thăm hỏi, giúp đỡ. Nếu cần thì Hội đồng Bùi tộc vận động toàn dòng Họ quyên góp trợ cấp, giúp đỡ kịp thời.
- Những gia đình có đám hiếu (người quá cố là ông bà, cha mẹ, hoặc chủ sự của gia đình) thì cần báo ngay cho Hội đồng gia tộc đến nhà có việc hiếu để trao đổi về kế hoạch tổ chức tang lễ và phân công hỗ trợ gia đình nhà hiếu ngay từ buổi đầu tang lễ. Tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình có việc hiếu mà phúng viếng bằng vòng hoa, trướng, tiền mặt phù hợp theo thời giá. Vòng hoa hoặc bức trướng ghi dòng chữ: Dòng thứ nhất ghi “Nội tộc Họ Bùi thôn 5 Tràng Duệ-Lê Lợi –An Dương”; Dòng thứ 2 ghi “kính viếng”.
Hội đồng gia tộc cần phối hợp với cơ quan đoàn thể sở tại, gia đình nhà hiếu và chính quyền địa phương thành lập Ban tang lễ, tổ chức phúng viếng và truy điệu,
tổ chức đưa tang chu đáo. Nếu người quá cố thuộc diện con cháu trẻ tuổi thì đến chia buồn với gia đình (không tổ chức viếng).
- Những người đến độ tuổi từ 70 trở lên thì cứ 10 năm một lần, đều được gia đình và Chi họ tiến hành lễ mừng thọ, tặng một bức trướng thêu với nội dung thích hợp, giá trị phù hợp thời giá. Việc mừng thọ có thể kết hợp trong buổi họp mặt toàn Chi. Nếu gia đình có nguyện vọng tự tổ chức mừng thọ thì Hội đồng gia tộc đến gia đình mừng thọ, tặng quà.
- Những người là Trưởng Chi, Trưởng Ngành, Trưởng Họ và dâu Trưởng khi đến tuổi được mừng thọ hoặc khi ốm đau phải điều trị ở bệnh viện, khi tạ thế,…thì ngoài Chi sở tại, các Chi khác và Hội đồng Bùi tộc phải có trách nhiệm tổ chức chúc mừng, thăm hỏi, phúng viếng, tiễn đưa về nơi an nghỉ cuối cùng (trị giá lễ mừng, quà thăm hỏi, phúng viếng của Hội đồng Bùi tộc cao hơn Chi Họ sở tại 30%).
- Các gia đình khánh thành nhà mới, nhà có đám hỏi, đám cưới,.. thì việc đi dự và chúc mừng là do sự tự nguyện của các thành viên trong họ. Nếu có giấy mời
Hội đồng Bùi tộc thì Hội đồng phân công đại biểu đến dự, với giá trị quà chúc mừng phù hợp theo thời giá và mức qùa ở thành thị cao hơn ở nông thôn là 30%. - Các gia đình có con trai, con gái dựng vợ, gả chồng, khi tổ chức thành hôn, cần bố trí cho cặp vợ chồng mới cưới đến Nhà thờ họ lễ Tổ để tỏ lòng hiểu nghĩa của mình. Nếu có tiền công đức tại Nhà thờ họ thì được ghi tên vào Sổ vàng công đức.
- Những thanh thiếu niên, sinh viên học giỏi, được Nhà nước cho đi học nước ngoài, tốt nghiệp đại học và trên đại học; những Nhà giáo, Thày thuốc, doanh nhân, những nhà khoa học, các sỹ quan quân đội và công an nhân dân được Nhà nước phong hàm, phong cấp (Lực lượng vũ trang thì từ Thiếu tá trở lên, dân sự thì từ cấp phó trưởng ngành quận/huyện và tương đương trở lên); những người được Nhà nước tặng huân huy chương các loại; những người được tặng danh hiệu anh hùng, được tặng huy hiệu 30 năm tuổi Đảng trở lên, cần đến Nhà thờ họ dâng lễ cẩn cáo Tiên tổ và ghi danh vào Sổ vàng danh dự; nếu có tiền công đức thì được ghi vào Sổ vàng công đức.
- Tất cả các gia đình thành viên trong họ, kể cả người ngụ cư ở tỉnh ngoài hay ở nước ngoài, đều được đến dâng hương lễ Tổ, được cung tiến tiền của tại Nhà thờ Họ. Những trường hợp cung tiến từ 1.000.000đồng trở lên để xây dựng Nhà thờ họ, tu tạo Nghĩa trang dòng Họ đều được ghi tên vào Sổ vàng công đức và sẽ được khắc tên vào bia đá tại Nhà thờ họ hoặc bia đá tại Nghĩa trang.
- Trong ngày giỗ Tổ họ hàng năm, danh sách người tham gia công đức sẽ được công khai thông báo trong dòng Họ.
Điều 8. Tài sản của dòng Họ
- Nhà thờ Họ là tài sản vô giá của dòng Họ, là nơi tôn nghiêm thờ cúng các bậc Tổ tiên; nơi thực hành các nghi lễ tâm linh thờ cúng Tổ tiên, biểu thị các giá trị chuẩn mực của đạo đức, thể hiện sự kính trọng, biết ơn đối với Tổ tiên, thể hiện cốt cách gia phong, gia giáo của gia tộc; nơi tuân theo nghi thức tôn ti thứ bậc của dòng Họ, biểu thị sự tôn trọng tri thức và người cao tuổi; và còn là nơi hội tụ giao lưu gặp mặt các thế hệ con cháu của dòng Họ. Nơi đây không thể có những hành động sai trái hoặc lời nói khiếm nhã, cãi cọ, sung đột,…giữa những người trong dòng tộc.
Nhà thờ họ Bùi (Từ đường Bùi tộc) đã được xây dựng, khánh thành và đưa vào sử dụng vào ngày 29 tháng 11 năm 2016 (tức ngày mùng Một tháng Chạp năm Bính Thân – Ngày Giỗ Tổ). Nhà thờ được xây dựng trên đất của gia đình Trưởng họ, các thành viên nội, ngoại tộc đã có tâm đóng góp xây dựng Nhà thờ, tổng số tiền 210 triệu đồng Việt Nam, được công bố công khai trong ngày Giỗ Tổ năm Bính Thân 2016 và đã ghi Sổ vàng công đức.
- Nghĩa trang Họ Bùi tại xóm 5, thôn Tràng Duệ, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng (có tên là Nghĩa trang Đường Vải) đã có từ thời chiến tranh. Nghĩa trang dòng Họ là nơi là nơi yên vị hài cốt của các hương linh dòng tộc, từ Thuỷ tổ Bùi Thiên Xuân và Nguyễn Thị Đông trở xuống đến hết đời thứ tư. Đến đời thứ năm, ngành thứ đi xây dựng kinh tế và sau này lập Nghĩa trang tại xã Hoà Nghĩa, huyện Kiến Thuỵ (nay là quận Dương Kinh), khi đó Nghĩa trang Đường Vải chỉ còn là nơi yên vị hài cốt của Ngành trưởng, các Chi và các gia đình khác trong nội thành
(trừ quận Dương Kinh). Nghĩa trang dòng Họ được xây dựng, tu tạo, sửa chữa nhiều lần, tuy đã khang trang, bề thế nhưng vẫn cần tu tạo định kỳ và gìn giữ.
Mọi người trong dòng Họ phải tuân thủ chấp hành đúng Quy ước về việc xây dựng và bảo vệ Nghĩa trang dòng Họ (kèm theo Tộc ước).
- Gia phả, Tộc phả dòng Họ là tài liệu mang tính gia sử, ghi chép về ngày sinh, tình trạng hôn nhân, thành tích, chức tước, phong hàm và ngày mất của tất cả thành viên trong Chi, dòng Họ.
Theo lời ghi của Trưởng họ đời thứ bảy (ông Bùi Văn Triển) thì năm 1946 gia đình Nhà trưởng bị cướp tài sản và Gia phả, Tộc phả bị mất từ đó. Để xác định đúng tôn ti, trật tự và thứ bậc trong Họ, các con cháu cần phải có tâm, có trách nhiệm khôi phục lại Gia phả, Tộc phả. Việc khôi phục Gia phả, Tộc phả sẽ do Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc thực hiện và được tiến hành ngay, công bố chính thức vào ngày giỗ Tổ (dự kiến mùng Một tháng Chạp năm….).
Các Ngành, Chi, gia đình có trách nhiệm cung cấp thông tin về gia đình mình, Chi, Ngành mình cho Hội đồng gia tộc và Hội đồng Bùi tộc để xây dựng Gia phả, Tộc phả. Hàng năm, vào ngày giỗ Tổ họ, Hội đồng gia tộc cùng Hội đồng Bùi tộc sẽ rà soát, cập nhật bổ sung Gia phả, Tộc phả kịp thời.
- Phú huý từng Ngành, Chi, dòng Họ là tài liệu mang tính gia sử, ghi chép ngày sinh, ngày mất, tên huý của từng thành viên nội, ngoại tộc theo từng Ngành, từng Chi. Phú huý dùng để cúng giỗ hàng năm đối với từng hương linh người quá cố và cầu siêu chân linh trong ngày giỗ Tổ tiên, ngày Thanh minh và tiết Vu lan.
Hiện tại, dòng Họ có bản dịch Phú huý từ chữ Hán, nhưng chưa xác định chính xác từng Ngành, Chi và còn thiếu nhiều chân linh nên cần phải có sự đối chiếu giữa các Ngành, các Chi để bổ sung và xác lập lại ngay trong năm…..
- Sổ vàng công đức và Sổ vàng danh dự cũng là một tài sản của dòng Họ.
Sổ vàng công đức được ghi chép đầy đủ họ và tên những người có lòng hảo tâm công đức vào các Quỹ của dòng Họ. Sổ vàng danh dự được ghi họ và tên nhưng người có thành tích cao trong học tập, công tác, được phong chức, phong hàm theo quy định của Nhà nước và áp dụng theo Tộc ước này. - Con dấu của dòng tộc là tài sản của dòng Họ và được quản lý an toàn tại Nhà thờ họ. Hình thức và nội dung con dấu do Hội đồng Bùi tộc quyết định.
Điều 9. Thờ cúng Tổ tiên, ông bà, cha mẹ
- Việc thờ cúng Tổ tiên, ông bà, cha mẹ là trách nhiệm của con, cháu. Theo giáo lễ, việc thờ cúng ở mọi gia đình, dòng Họ là 5 đời: Cha mẹ (đời thứ 2), Ông Bà
(đời thứ 3), Cụ ông, Cụ Bà (đời thứ 4), Cụ cố (đời thứ 5). Cao hơn Cụ cố gọi chung là
Tiên tổ thì không cúng giỗ nữa, Tiên tổ chỉ thờ cúng tại Nhà thờ họ mỗi năm 1 lần. - Mỗi Ngành, hoặc Chi có Từ đường để tiện thờ cúng cho Chi mình. Việc thờ cúng ở Chi thì chỉ được thờ cúng từ cụ Tổ chi mình trở xuống (5 đời trở xuống), không được thờ cúng các cụ Tổ cao hơn cụ Tổ chi (các cụ cao hơn chỉ được thờ cúng ở Nhà thờ họ). Ngày giỗ chính ở các Chi là do từng Chi quyết định.
- Ngày giỗ Thuỷ Tổ khảo Bùi Thiên Xuân là ngày 21 tháng 6 hàng năm và ngày giỗ Thuỷ Tổ tỷ Nguyễn Thị Đông vào ngày Mùng 1 tháng Chạp hàng năm.
Để phù hợp thời tiết, khí hậu và thế giới tâm linh, toàn Họ đã thống nhất nhằm ngày Mùng 1 tháng Chạp hàng năm là ngày giỗ Tổ, chạp Tổ chung cho dòng Họ. - Quy trình tổ chức giỗ Tổ hàng năm được tiến hành như sau:
– Trước ngày giỗ Tổ một ngày, Ban hậu cần và khánh tiết phải có kế hoạch sửa sang, lau chùi Mộ Tổ và Nghĩa trang dòng Họ; quét dọn Nhà thờ, chuẩn bị lễ vật,
dựng rạp, kê bàn ghế tại Nhà thờ Họ để chuẩn bị cho ngày giỗ Tổ được trang trọng,
tôn kính và lịch sự.
– Tối ngày 30 tháng Một hàng năm, nếu có điều kiện thì các Chi, các Tiểu Chi tề tựu về Nhà thờ họ để hoan hỉ và chuẩn bị cho lễ giỗ Tổ ngày hôm sau.
– Sáng sớm ngày mùng Một tháng Chạp các Chi, Tiểu Chi, đại diện các gia đình cùng nhau ra thắp hương tại Đài tổ dòng Họ, sau đó về Nhà thờ họ họp và cúng giỗ Tổ. Ban hậu cần và khánh tiết chuẩn bị lễ vật để cỗ cúng; Ban Tế lễ tổ chức tế theo nghi thức, tập tục địa phương.
– Nội dung cuộc họp tại Nhà thờ họ trong ngày giỗ Tổ: Hội đồng Bùi tộc và các Ban giúp việc Báo cáo tổng quát về sự chuyển biến, tiến bộ cũng như các điểm cần uốn nắn, bổ khuyết; những điểm cần bổ sung vào Tộc phả; biểu dương khen thưởng người tốt, việc tốt, các con cháu học giỏi, thi đạt cao ở cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế…; công bố danh sách công đức; công khai Quỹ họ tộc; bàn và quyết nghị về phương hướng, nhiệm vụ cho năm sau.
– Việc họp Hội đồng Bùi tộc trong ngày giỗ Tổ phải ghi thành biên bản và lưu hồ sơ dòng Họ và quản lý tại Nhà thờ họ.
Điều 10. Lễ tiết Thanh minh
- Thanh minh là ngày các con, cháu tập trung lau dọn phần Mộ “tảo mộ” của Tiên tổ, ông bà, cha mẹ, bồi đắp các Ngôi mộ và tưởng nhớ Tổ tiên và những người có công sinh thành. Mọi người trong nội, ngoại tộc đều có quyền về Nghĩa trang dòng Họ và Nhà thờ họ trong dịp Lễ tiết Thanh minh để hương khói, vàng mã cho Tổ tiên, ông bà, cha mẹ… nhưng phải đảm bảo trang nghiêm, trân trọng, tuân thủ quy định tại Nghĩa trang.
- Trước ngày Thanh minh, Ban hậu cần và khánh tiết phải tổ chức lau chùi Đài Tổ, các Ngôi mộ, dọn dẹp Nghĩa trang, Nhà thờ họ để chuẩn bị Lễ tiết Thanh minh. Vào ngày Thanh minh, Hội đồng Bùi tộc cùng đại diện các Ngành, các Chi, Tiểu Chi và các gia đình ra lễ tại Nghĩa trang; sau đó về Nhà thờ họ để cẩn cáo
Tổ tiên và thụ hưởng lễ vật. - Các thành viên nội, ngoại tộc có tâm lòng, nếu có điều kiện thì nhân dịp này công đức cho dòng Họ để tu bổ Nghĩa trang, Nhà thờ họ. Việc công đức sẽ được ghi vào Sổ vàng công đức của dòng Họ.
Điều 11. Lễ hội Đình làng
Đình làng Tràng Duệ là nơi thờ cúng Thành Hoàng làng Nguyễn Văn Thản, theo dân truyền thì họ Bùi tại xóm 5, thôn Tràng Duệ có nhiều người có chức sắc được tham gia hội họp Đình làng để quyết định những vấn đề lớn của làng, xã thời phòng kiến. Theo tập tục, họ Bùi tổ chức Lễ hội Đình làng vào ngày 10 tháng Hai hàng năm. Tuy nhiên, những năm gần đây việc tham gia của các Ngành, các Chi có phần hạn chế. Để hưởng ứng phong tục, tập quán địa phương, Hội đồng Bùi tộc đề nghị các Ngành, các Chi và các gia đình tham gia Lễ hội Đình làng kể từ năm….
Hàng năm, vào dịp Mùng 10 tháng Hai, Ban hậu cần, khánh tiết dự trù nghi lễ và báo cáo Hội đồng Bùi tộc cùng đại diện Hội đồng gia tộc, các Chi, các gia đình để tổ chức Lễ hội Đình làng với phương châm: Trang trọng – Tiết kiệm.
CHƯƠNG III
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DÒNG HỌ
Điều 12. Trưởng chi, Trưởng họ
Người con trai đầu của Ngành, Chi đương nhiên là Trưởng ngành, Trưởng chi, người con trai Ngành trưởng, Chi trưởng đương nhiên là Trưởng tộc (Trưởng họ).
Trưởng chi là người chịu trách nhiệm trước Tổ chi, trước Hội đồng gia tộc và các gia đình trong Chi họ; Trưởng họ là người chịu trách nhiệm trước Tổ tiên, và chịu trách nhiệm trước toàn họ, đảm nhiệm vai trò của Chi ngành trưởng và Trưởng họ.
Trường hợp Trưởng chi, Trưởng họ còn nhỏ chưa đến tuổi trưởng thành
(dưới 18 tuổi) hoặc sống xa quê hương: nếu thân mẫu còn sống sẽ là người bảo hộ và tham gia điều hành cùng Hội đồng gia tộc và Hội đồng Bùi tộc; nếu thân mẫu không còn thì việc điều hành Chi họ và dòng Họ sẽ do Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc quyết định đến khi Trưởng chi, Trưởng họ đến tuổi trưởng thành hoặc khi Trưởng chi, Trưởng họ trở về quê hương sinh sống (quê hương được khái niệm là tỉnh/thành).
Trường hợp Trưởng chi, Trưởng ngành, Trưởng họ bị chết mà không có con trai kế vị thì Hội đồng Bùi tộc phải họp toàn dòng họ để quyết định trao ngôi Trưởng chi, Trưởng họ cho một người nội tộc theo tập tục gia truyền và phù hợp pháp luật Việt Nam.
Điều 12. Hội đồng gia tộc (chi Họ)
- Hội đồng gia tộc là đại diện cho từng Chi. Căn cứ số lượng hộ gia đình và nhân khẩu, mỗi Chi bầu 3 hoặc 5 người (không bầu 4, hoặc 6) vào Hội đồng gia tộc, do Trưởng chi làm Chủ tịch Hội đồng.
- Hội đồng gia tộc căn cứ vào trình độ, khả năng và độ tuổi để phân công, bảo đảm thực hiện tốt các việc như: Tổ chức sinh hoạt Chi họ, giữ gìn và bổ sung
Gia phả; kiểm tra đôn đốc thực hiện Tộc ước, Quy ước, bảo đảm việc hương đăng thờ phụng Tổ tiên; tu sửa và bảo quản Nghĩa trang; xây dựng các Quỹ gia tộc. - Nhiệm kỳ của Trưởng chi, Trưởng ngành không xác định thời hạn. Nhiệm kỳ của Hội đồng gia tộc là ba năm. Hàng năm, vào ngày giỗ Tổ chi sẽ bổ sung thành viên Hội đồng gia tộc theo đề nghị của đại diện các gia đình.
Điều 13. Hội Đồng Bùi tộc (dòng Họ)
- Hội đồng Bùi tộc là đại diện cho toàn dòng Họ. Tất cả các Chi và Tiểu chi có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu đại biểu của Chi mình cùng với Trưởng họ để thành lập Hội đồng Bùi Tộc. Thành phần Hội đồng Bùi tộc có ít nhất 9 uỷ viên, do Trưởng họ làm Chủ tịch Hội đồng.
- Hội đồng Bùi tộc có trách nhiệm trước Tổ Tiên và cả dòng họ hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc các Chi và Tiểu chi tổ chức thực hiện Tộc ước, Quy ước; có trách nhiệm sưu tầm, bổ sung một số quy định để bảo đảm thực hiện Tộc ước, Tộc Phả, duy trì các định kỳ Giỗ, Tết, Thanh minh, sinh hoạt Họ nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết nhược điểm, giữ vững kỷ cương, uy tín dòng họ.
- Nhiệm kỳ của Trưởng họ không xác định thời hạn. Nhiệm vụ của Hội đồng Bùi tộc là 5 năm. Hàng năm, vào ngày giỗ Tổ Họ sẽ bổ sung thành phần Hội đồng theo đề nghị của các Hội đồng gia tộc.
Điều 14. Nguyên tắc hoạt động của các Hội đồng
Hội đồng Bùi tộc, Hội đồng Gia tộc làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, sâu sát từng gia đình.
Hội đồng có Sổ nghị quyết và định rõ lịch hội họp, sinh hoạt giao ban. Hội đồng quản lý Sổ tài sản và kế toán, thủ quỹ; quản lý Sổ danh sách thành viên các gia đình trong Chi, trong Họ (để theo dõi bổ sung Gia Phả, Tộc phả); quản lý Sổ vàng công đức, Sổ vàng danh dự; quản lý các Quỹ dòng họ và Hòm công đức.
Căn cứ vào nghị quyết của Chi và của Họ bầu ra Thường trực hội đồng. Thường trực hội đồng gia tộc theo dõi điều hành và quản lý sử dụng Quỹ Chi họ, Thường trực Hội đồng Bùi tộc theo dõi điều hành và quản lý sử dụng Quỹ dòng Họ theo đúng Nghị quyết của Chi và của Họ đã định.
Điều 15. Trách nhiệm của Hội Đồng
- Bộ phận thường trực Hội đồng Bùi tộc và Hội đồng gia tộc chịu trách nhiệm trước toàn thể Hội đồng, trước các Chi và toàn dòng Họ. Đảm nhiệm tốt việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Chi, của Họ, đặc biệt là những quy định trong Tộc ước, nhằm bảo đảm duy trì và phát huy việc sinh hoạt của Chi họ và của dòng Họ.
- Bộ phận thường trực cần phải có sự phân công cụ thể cho từng người trong bộ phận. Mỗi thành viên thường trực là Trưởng một Ban giúp việc theo Điều 16 Tộc ước. Bộ phận thường trực phải theo dõi ghi chép, lưu trữ chứng từ, số liệu đầy đủ, rõ ràng , minh bạch; định kỳ thống kê báo cáo với Hội đồng và dòng Họ.
- Những khoản chi lớn, khi có yêu cầu, Bộ phận thường trực dự kiến kế hoạch kinh phí đa ra Hội đồng gia tộc hoặc Hội đồng Bùi tộc bàn bạc, quyết định.
Quyền hạn của Trưởng Chi và Thường trực Hội đồng gia tộc được duyệt chi tối đa là 5 triệu đồng; chi cao hơn thì phải do toàn thể Hội đồng gia tộc quyết định. Chi từ 10 triệu đồng trở lên phải do cuộc họp toàn Chi quyết định theo đa số.
Trưởng họ và Thường trực Hội đồng Bùi tộc được duyệt chi tối đa là 10 triệu đồng. Chi đến 15 triệu đồng phải do Hội đồng Bùi tộc quyết định. Từ 15 triệu đồng trở lên phải đưa ra hội nghị toàn tộc quyết định.
Các khoản chi tiêu của Chi họ, dòng Họ giao cho Ban tài chính, kế toán tổ chức hạch toán đầy đủ, kịp thời vào Sổ tài chính, kế toán của Chi, Nghành, dòng Họ.
- Trưởng Chi và Trưởng họ có quyền triệu tập các thành viên trong họ (từ 18 tuổi trở lên) hoặc đại diện các gia đình bàn bạc phân công nhiệm vụ lo toan việc Chi, việc Họ, Có thể kết hợp họp Chi, họp Họ với các kỳ giõ Tổ Chi, Tổ Họ. Khi bộ phận thường trực thay mặt Hội đồng gia tộc (hoặc Hội đồng Bùi tộc) điều hành giải quyết công việc của Chi, của Họ mà còn có những vướng mắc, tồn tại thì phải đưa ra cuộc họp toàn Hội đồng gia tộc hoặc Hội đồng Bùi tộc giải quyết dứt điểm.
- Hàng năm, vào giỗ Tổ Chi, Tổ Họ, Trưởng Chi báo cáo kết quả hoạt động của Chi mình trước cuộc họp toàn Chi; Trưởng họ báo cáo kết quả hoạt động toàn Họ trước toàn họ.
Điều 16. Tổ chức và hoạt động của các Ban
- Hội đồng gia tộc và Hội đồng Bùi tộc căn cứ số lượng uỷ viên để thành lập các Ban giúp việc cho Hội đồng. Mỗi một Ban giúp việc do một uỷ viên Hội đồng làm Trưởng ban. Nhiệm kỳ của các Ban giúp việc gắn với nhiệm kỳ của Hội đồng gia tộc và Hội đồng Bùi tộc.
- Các Ban giúp việc dòng Họ (và dự kiến Trưởng ban, Phó ban) như sau:
– Ban Tế lễ: Hiện chưa thành lập (chờ Trưởng họ về hưu);
– Ban công đức: Ông Bùi Văn Thi, ông Bùi Mạnh Tường;
– Ban khuyến học (Liêm, Thành);
– Ban mừng thọ (ến ông Thuận, ông Lợi);
– Ban xây dựng, tôn tạo Nhà thờ họ (dự kiến Triều, Tùng);
– Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang dòng Họ (dự kiến ông Lợi, Khoa);
– Ban hậu cần, khánh tiết (dự kiến Khoa, Hà);
– Ban tài chính, kế toán (dự kiến Hiệp, Hùng);
– Ban thư ký Tộc ước, Gia phả, Tộc phả (dự kiến Hiệp, Trong);
– Ban cố vấn giám sát, kỷ cương (dự kiến ông Sỹ, Bảo).
- Trách nhiệm của các Ban giúp việc
Các ban giúp việc có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất những vấn đề liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Ban. Trưởng Ban có quyền giới thiệu các thành viên và đề nghị Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc quyết định thành lập và quy định nhiệm vụ cụ thể đối với các Ban và các thành viên của Ban.
Các Ban liên quan đến tài chính (công đức; khuyến học; mừng thọ; xây dựng và quản lý Nhà thờ; xây dựng và quản lý Nghĩa trang) phải ghi chép đầy đủ các khoản tâm cúng, đóng góp, hỗ trợ của mọi thành viên trong dòng Họ vào Sổ sách; chuyển các khoản thu về Ban tài chính, kế toán để sử dụng vào các mục đích chung.
Ban tài chính, kế toán có trách nhiệm tiếp nhận, hạch toán các khoản thu từ các ban, thực hiện chi tiêu tài chính theo đề nghị của các ban và phê chuẩn của Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc; tổ chức công khai tài chính hàng năm vào ngày giỗ Tổ.
- Nhiệm vụ của các Ban giúp việc
– Ban Tế lễ có nhiệm vụ tổ chức tế lễ Tổ tiên theo nghi thức của dòng Họ và phù hợp với tập tục địa phương; đề xuất với Ban tài chính, kế toán sử dụng Quỹ công đức để chi tiêu vào việc tế lễ trong các ngày giỗ Tổ, Thanh minh, Lễ hội Đình làng.
– Ban công đức có nhiệm vụ vận động các thành viên dòng Họ hưởng ứng, ủng hộ, thành tâm góp Quỹ công đức để chi dùng vào các mục đích giỗ Tổ, Thanh minh và Lễ hội Đình Làng hàng năm, xây dựng và sửa chữa Nhà thờ họ, Nghĩa trang dòng Họ. Các khoản tâm cúng công đức từ 200.000đồng trở lên, được ghi vào Sổ vàng công đức của dòng Họ.
– Ban khuyến học có nhiệm vụ tuyên truyền, phát động phong trào học tập; theo dõi, tổng hợp và đề xuất những vấn đề liên quan đến khuyến học, khen thưởng, vinh danh những cá nhân xuất sắc vào Sổ vàng danh dự.
– Ban mừng thọ có nhiệm vụ theo dõi, tổng hợp tuổi đời của các cụ cao niên trong dòng Họ; đề xuất với Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc sử dụng Quỹ mừng thọ để tổ chức mừng thọ và ghi vào Sổ đăng thọ.
– Ban xây dựng và quản lý Nhà thờ họ có trách nhiệm tổ chức xây dựng,
tôn tạo Nhà thờ họ khi được Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc phê chuẩn.
– Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang dòng Họ có nhiệm vụ tổ chức thi công xây dựng, tôn tạo, phục dựng Đài Tổ, các Ngôi mộ trong Nghĩa trang dòng Họ khi được Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc phê chuẩn.
– Ban hậu cần, khánh tiết có nhiệm vụ chuẩn bị vật phẩm tế lễ; tiếp nhận đăng ký số lượng người, dự toán suất ăn, mua bán hàng hoá thực phẩm, nấu cỗ trong ngày Giỗ Tổ.
– Ban tài chính, kế toán có nhiệm vụ hạch toán đầy đủ, kịp thời các khoản thu-chi theo đề nghị của các Ban giúp việc và quyết định của Hội đồng Bùi tộc.
– Ban thư ký Tộc ước, Gia phả, Tộc phả có nhiệm vụ ghi Nhị quyết các cuộc họp của Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc vào Sổ nghị quyết; nghiên cứu, sưu tầm lịch sử về dòng Họ, dự thảo Gia phả, Tộc phả trình Hội đồng gia tộc và Hội đồng Bùi tộc thông qua trước các Chi, Ngành, dòng Họ.
– Ban cố vấn và giám sát, kỷ cương có nhiệm vụ theo dõi, giám sát, nhắc nhở và vận động mọi người thực hiện nghiêm chỉnh Tộc ước – gia pháp, Quy ước dòng Họ, kịp thời nhắc nhở, uốn nắn mọi biểu hiện sai trái của các thành viên dòng Họ;
đề xuất với Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc xử lý các trường hợp vi phạm
Tộc ước, Quy ước dòng Họ; được tham vấn khi Hội đồng gia tộc, Hội đồng Bùi tộc xem xét các vấn đề hệ trọng của dòng Họ.
CHƯƠNG IV
BAN HÀNH, SỬA ĐỔI VÀ HIỆU LỰC TỘC ƯỚC
Điều 17. Thông qua Tộc ước và ban hành
Bản Tộc ước đã được thông qua Trưởng họ, Hội đồng gia tộc, các Trưởng chi, các Tiểu chi và đại diện các hộ gia đình họ Bùi trong ngày Giỗ Tổ (Mùng một tháng Chạp năm….). Toàn thể các thành phần dự họp đều biểu quyết nhất trí thông qua và ký tên trên bản Tộc ước. Bản Tộc ước kèm 05 Quy ước có hiệu lực ngay sau khi ký.
Điều 18. Sửa đổi, bổ sung Tộc ước
Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế bản Tộc ước này sẽ do Hội đồng Bùi tộc quyết định sau khi đã lấy ý kiến rộng rãi, dân chủ của đại đa số thành viên trong Họ.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề xuất, kiến nghị sẽ được đưa ra hội nghị dòng Họ vào ngày giỗ Tổ hàng năm để thảo luận và quyết định.
Điều 19. Các Quy ước kèm theo bản Tộc ước
- Quy ước khuyến học, khuyến tài của dòng Họ.
- Quy ước mừng thọ dòng Họ.
- Quy ước việc hiếu các thành viên họ tộc.
- Quy ước tôn tạo và quản lý Nghĩa trang dòng Họ.
- Quy ước tôn tạo và quản lý Nhà thờ họ.
Điều 20. Tài liệu và Sổ sách của Chi họ, dòng Họ
Căn cứ Tộc ước – Gia pháp này, Thường trực Hội đồng gia tộc, Hội đồng
Bùi tộc thống nhất về nội dung, hình thức hệ thống Tài liệu và Sổ sách của Chi, Ngành, dòng Họ (mỗi Chi/Ngành/Họ được lập riêng thành những tài liệu độc lập).
Hệ thống Tài liệu và Sổ sách gồm có:
- Tài liệu: Gồm 03 tài liệu
– Bản Tộc ước – Gia pháp kèm 04 Quy ước (chung toàn Họ);
– Gia phả, Tộc phả (theo Chi/Ngành/Họ);
– Phú huý (theo Chi/Ngành/Họ).
- Sổ sách: Gồm 09 Sổ sách
– Sổ vàng công đức (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ theo dõi Quỹ khuyến học (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ theo dõi Quỹ mừng thọ (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ theo dõi Quỹ xây dựng và quản lý Nghĩa trang (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ theo dõi Quỹ xây dựng và quản lý Nhà thờ (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ vàng danh dự (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ đăng thọ (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ tài chính, kế toán (theo Chi/Ngành/Họ);
– Sổ Nghị quyết (theo Chi/Ngành/Họ).
QUY ƯỚC
KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI CỦA DÒNG HỌ
- Mục đích, ý nghĩa của việc khuyến học, khuyến tài
– Khuyến khích, động viên con cháu trong Họ noi gương tiên tổ, ông cha học hành thật giỏi, đỗ đạt cao làm rạng danh dòng Họ.
– Vận động mọi thành viên trong Họ tham gia tổ chức khuyến học. Đẩy mạnh phong trào thi đua giữa các gia đình, nâng cao trách nhiệm của gia đình, tạo mọi điều kiện đầu tư chăm sóc con cháu ăn học. Coi việc chăm lo học tập cho con cháu trong Họ là nhiệm vụ chung của cả dòng Họ.
– Để sánh vai với các dòng Họ khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đóng góp nhiều nhân tài cho đất nước.
- Xây dựng Quỹ khuyến học
Quỹ khuyến học Họ do mọi người trong Họ tự nguyện đóng góp cùng với sự tài trợ của các nhà hảo tâm trong và ngoài Họ.
Quỹ khuyến học Họ chỉ sử dụng vào việc khuyến học, khuyến tài trong Họ. Chỉ thưởng cho con cháu học giỏi, đỗ đạt cao, thành viên thực hiện tốt quy ước. Trợ giúp động viên con cháu nghèo vượt khó khăn học tập tốt.
- Trách nhiệm của mọi người trong Họ
Đối với những thành viên đang theo học (kể cả người lớn và trẻ nhỏ) noi gương Tổ tiên ông cha, giúp đỡ nhau, tự giác chuyên cần, siêng năng học tập, khắc phục mọi khó khăn phấn đấu vươn lên học giỏi, đỗ đạt cao. Đối với các bậc ông bà, cha mẹ, chú bác… nuôi con cháu ăn học phải bố trí sắp xếp thời gian phù hợp để con trẻ được học tập, lao động, vui chơi hợp lý.
Đầu tư cho con cháu mình ăn học không tiếc công, tiếc của. Người nào có kiến thức nếu có điều kiện trực tiếp hướng dẫn, kèm cặp con cháu nhà mình và các con cháu trong Họ học tập. Người lớn phải làm gương cho con trẻ về tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo. Hăng hái tham gia đóng góp xây dựng quỹ hội và đóng góp ý kiến xây dựng phong trào khuyến học, khuyến tài của Họ ngày càng tốt hơn.
- Tổ chức khen thưởng
Hàng năm, sau mỗi năm học, Ban khuyến học có trách nhiệm tập hợp kết quả học tập của từng cháu (thông qua giấy khen của Nhà trường, phiếu kê khai của Họ phát và báo cáo của cha mẹ các cháu), xét tuyên dương, khen thưởng cho các cháu học tập tốt, đỗ đạt cao. Đồng thời xét hỗ trợ động viên những thành viên có hoàn cảnh khó khăn, gặp hoạn nạn, rủi ro mà cố gắng nuôi con ăn học.
Lễ phát thưởng khuyến học, khuyến tài được tổ chức hàng năm vào ngày giỗ Tổ họ. Thành viên dự lễ gồm đầy đủ các thành viên trong Họ. Ban khuyến học dòng Họ thực hiện báo cáo tổng kết phát thưởng (gồm giấy khen, hiện vật hoặc tiền mặt), mời người cao niên, có uy tín trong dòng Họ hoặc Trưởng Ban khuyến học trao thưởng, căn dặn con cháu, ghi tên con cháu có thành tích học tập vào Sổ vàng khuyến học của Họ. Các con cháu được lĩnh thưởng ăn mặc chỉnh tề, sau khi nhận thưởng có phát biểu cảm tưởng và hứa trước Tiên tổ, Họ hàng sẽ tiếp tục phấn đấu để học tập đỗ đạt cao hơn nữa.
- Tổ chức thực hiện
Họ Bùi có số đinh trong họ ít nhưng lại cư trú nhiều nơi. Người ở gần cũng như người ở xa hàng năm nên tạo điều kiện về thăm quê hương, nhất là các dịp lễ tết, giỗ Tổ để cúng giỗ, xum họp giao lưu nghĩa tình.
Để làm tốt việc khuyến học, khuyến tài của Họ đòi hỏi rất nhiều ở sự đồng tâm, nhất trí, góp công, góp của của mọi thành viên trong Họ.
Quy ước đã được thông qua dòng Họ cùng Tộc ước, Ban khuyến học và mọi thành viên trong Họ chịu trách nhiệm thi hành.
QUY ƯỚC
MỪNG THỌ DÒNG HỌ
- Mục đích, ý nghĩa việc mừng thọ
Mừng thọ là tình cảm, sự tôn vinh, tri ân và trách nhiệm của con cháu dòng Họ đối với những ông bà, cha mẹ được hưởng thọ (từ trên 70 tuổi). Mỗi con người sinh ra từ ngàn đời đều mong sao có được “Ngũ Phúc” (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh), song điều mà ai cũng mong là được trường thọ. Con người thường chúc nhau
“Sống lâu trăm tuổi” hay “Trường sinh bất lão” hoặc “Bách niên giai lão” vì chữ thọ bao hàm nghĩa rộng là “Thiên tước” (Lộc trời ban). Người ta có quan niệm khá triết lý, người sống thọ là người nhân hậu, người tâm đức vì “Thiên lý tại nhân tâm”.
Những người sống thọ là sống hợp lẽ trời, âm dương điều hòa, sống mà mọi cư xử chừng mực không thái quá. Bước sang năm mới xuân về, thì tục mừng thọ người cao niên, ông bà, cha mẹ, người thân, là nét đẹp về đạo hiếu nghĩa. Xã hội càng hưng thịnh, đời sống càng dư giả thì lễ mừng thọ càng được chú ý, quan tâm.
- Xây dựng Quỹ mừng thọ
Quỹ mừng thọ của Họ là do mọi người trong Họ tự nguyện đóng góp cùng với sự tài trợ của các nhà hảo tâm trong và ngoài Họ. Quỹ mừng thọ Họ chỉ sử dụng vào việc mừng thọ trong Họ. Chỉ mừng đối với các cụ ở tuổi chẵn: 70, 80, 90, 100.
- Tổ chức mừng thọ
Hàng năm, trước ngày giỗ Tổ họ các gia đình có ông bà, cha mẹ tuổi 70, 80, 90 phải có trách nhiệm thông báo và đăng ký với họ ngày tổ chức mừng thọ (nếu có tổ chức riêng tại nhà) để họ tộc đến mừng thọ.
Theo đề nghị của Ban mừng thọ, Hội đồng Bùi tộc sẽ tổ chức mừng thọ chung cho tất cả các cụ vào ngày giỗ Tổ, họ tộc sẽ có quà mừng thọ cho người đăng thọ. Đối với người ở xa quê hương đến tuổi đăng thọ con cháu người đặng thọ phải có trách nhiệm thông báo cho họ tộc ở quê nhà để họ tộc còn vào Sổ đăng thọ và thông báo cho toàn họ biết. Nếu có điều kiện thì người đăng thọ và gia đình nên về quê làm lễ đăng thọ để con cháu trong họ tộc được mừng thọ.
- Tổ chức thực hiện
Mọi thành viên có thể thể hiện bằng việc phụng dưỡng ông bà, cha mẹ, đồng tâm, nhất trí, góp công, góp của để duy trì và phát triển Quỹ mừng thọ.
Quy ước đã được thông qua dòng Họ cùng Tộc ước. Ban mừng thọ và mọi thành viên trong Họ chịu trách nhiệm thi hành.
QUY ƯỚC
VIỆC HIẾU CÁC THÀNH VIÊN HỌ TỘC
- Mục đích, ý nghĩa
- Tổ chức thăm viếng
Quy ước đã được thông qua dòng Họ cùng Tộc ước. Ban mừng thọ và mọi thành viên trong Họ chịu trách nhiệm thi hành.
QUY ƯỚC
XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ NGHĨA TRANG DÒNG HỌ
- Mục đích
Quy định việc xây dựng và quản lý Nghĩa trang dòng Họ, xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các chi, ngành, gia đình, cá nhân trong việc di chuyển, xây dựng Ngôi mộ đối với những hài cốt (an táng, hoả táng) thuộc thành viên dòng Họ đã mất.
- Đối tượng áp dụng
Áp dụng đối với các hài cốt dòng tộc họ Bùi từ đời thứ nhất đến đời thứ ba.
Từ đời thứ tư trở đi chỉ áp dụng đối với các hài cốt thuộc Ngành trưởng, Chi trưởng và các Chi khác ((sống tại xã Lê Lợi, huyện An Dương và sống tại nội thành
(trừ quận Dương Kinh)), gồm:
– Những người con trai của dòng Họ và những người con dâu.
– Những người con gái của dòng Họ chưa xây dựng gia đình.
– Những trường hợp ngoại lệ (không thuộc 2 mục trên) do Hội đồng Bùi tộc xem xét quyết định.
- Quyền lợi và nghĩa vụ
Tất cả các thành viên nêu tại điểm 2 trên đây, khi chết hài cốt được đưa về Nghĩa trang dòng Họ (trừ trường hợp không có nhu cầu). Tất cả những thân nhân có liên quan đến các Ngôi mộ tại Nghĩa trang có quyền tự do được thăm viếng.
Gia đình, thân nhân của người qúa cố khi đưa hài cốt của người thân phải có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh Quy ước này.
- Quy định cụ thể
4.1 Mọi trường hợp di chuyển (đưa về, ra khỏi), xây dựng, tôn tạo hoặc làm thay đổi các Ngôi mộ thuộc phạm vi Nghĩa trang đều phải thông báo với Hội đồng Bùi tộc trước 10 ngày và chỉ được thực hiện khi Hội đồng Bùi tộc chấp thuận.
4.2 Việc đặt hài cốt mới về Nghĩa trang phải theo ngôi, hàng, thứ bậc của dòng Họ, Hội đồng Bùi tộc sẽ xem xét từng trường hợp cụ thể.
Việc đặt hài cốt, xây dựng mới các Ngôi mộ phải theo sơ đồ. Trước mắt tập trung tại phía ngoài Nghĩa trang (khu vực cổng ra, vào) và đặt xem kẽ vào các hàng mộ còn thừa đất, sau đó đến phía trong Nghĩa trang, phần đất trống còn lại được sử dụng sau cùng.
4.3 Việc xây mới, sửa chữa, tôn tạo các Ngôi mộ phải theo tiêu chuẩn sau:
– Kích thước mặt bằng tối đa: 93cm x 147cm;
– Chiều cao tối đa (tính cốt theo mặt ngõ trước Đài Tổ): 175cm;
– Thẳng hàng (tính theo hàng trên, hàng dưới, hàng ngang);
– Hình thức Ngôi mộ phải theo mẫu chung như những Ngôi mộ đã có.
Các Ngôi mộ chưa phù hợp với quy định trên, giao Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang dòng Họ cùng Ban cố vấn, giám sát kỷ cương đề xuất với Hội đồng Bùi tộc xem xét, quyết định.
4.4 Việc sửa chữa, tôn tạo khu vực Đài Tổ và Mộ Tổ chỉ được thực hiện theo quyết định của Hội đồng Bùi tộc.
4.5 Thân nhân đến, vào Nghĩa trang dòng Họ phải chấp hành:
– Lấy chìa khoá cổng Nghĩa trang tại Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang;
– Không trèo, dẫm chân lên Mộ của người khác;
– Không làm mất vệ sinh trong khu vực Nghĩa trang;
– Hóa vàng, tiền đúng nơi quy định.
4.6 Hàng năm các thành viên nội tộc trưởng thành phải có nghĩa vụ đóng chi phí trông coi, vệ sinh khu vực Nghĩa trang, mức đóng góp là: 50.000đ/1 người/1 năm (trừ những người đang cư trú tại quận Dương Kinh).
Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang dòng Họ có trách nhiệm quản lý chìa khóa Nghĩa trang; quản lý Nghĩa trang đảm bảo môi trường xanh – sạch – đẹp; thu tiền đóng góp tiền phí trông coi, vệ sinh Nghĩa trang dòng Họ.
Định kỳ hàng năm (vào ngày giỗ Tổ), Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang phải có trách nhiệm công khai việc đóng góp và sử dụng Quỹ xây dựng và quản lý Nghĩa trang của dòng Họ.
4.7 Trường hợp ngoại lệ theo điểm 2 trên đây và trường hợp vi phạm Quy ước này, Hội đồng Bùi tộc sẽ xem xét và quyết định xử lý phù hợp.
- Tổ chức thực hiện
Quy ước này đã được thông qua trước dòng Họ cùng Tộc ước. Ban xây dựng và quản lý Nghĩa trang dòng Họ và mọi thành viên trong dòng tộc chịu trách nhiệm thi hành Quy ước này.
QUY ƯỚC
XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ THỜ HỌ
CÁC UỶ VIÊN HỘI ĐỒNG BÙI TỘC
(Ký và ghi rõ họ tên)


